- Chi phí logistics của Việt Nam đang chiếm 16-18% GDP, tạo áp lực lớn lên giá thành và khả năng cạnh tranh xuất khẩu.
- Mục tiêu kéo giảm tỷ lệ này về 12-15% GDP phụ thuộc hoàn toàn vào chuyển đổi xanh và liên thông dữ liệu thời gian thực giữa các đơn vị vận tải, cảng biển.
- Thí điểm hành lang logistics xanh kết nối vùng nguyên liệu Đồng bằng sông Cửu Long với cụm cảng Cái Mép – Thị Vải là bước đi chiến lược cần ưu tiên.
Diễn biến và Dữ liệu trọng tâm
Chi phí logistics của Việt Nam hoàn toàn có thể giảm từ mức 16-18% GDP hiện tại xuống còn 12-15% GDP nếu áp dụng toàn diện các giải pháp xanh hóa kết hợp liên thông dữ liệu chuỗi cung ứng. Đây là nhận định chiến lược được bà Ishita Dhamani, đối tác cấp cao Ernst & Young (EY) Singapore, đưa ra tại phiên chuyên đề “Chuỗi giá trị toàn cầu bền vững: Logistics xanh” trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 do UBND TP HCM và C4IR tổ chức từ ngày 26 đến 29/10/2026.
Hạ tầng cảng biển Việt Nam đang trên đà mở rộng quy mô vượt bậc, song rào cản chi phí vận hành vẫn là nút thắt lớn kìm hãm dòng vốn đầu tư trực tiếp và năng lực cạnh tranh của mạng lưới nhà xưởng.
| Hạng mục / Thực thể | Dữ liệu công suất & Mục tiêu | Vai trò chiến lược |
|---|---|---|
| Cảng Cái Mép – Thị Vải | Công suất đạt 6,3 triệu TEU | Cửa ngõ xuất nhập khẩu nước sâu trọng điểm phía Nam |
| Cảng trung chuyển Cần Giờ | Quy hoạch đạt 16,9 triệu TEU vào 2047 | Định vị trở thành trung tâm trung chuyển quốc tế cạnh tranh trực tiếp với Singapore |
| Chi phí Logistics quốc gia | Hiện trạng 16-18% GDP, mục tiêu hạ về 12-15% GDP | Giải phóng hàng tỷ USD chi phí tuân thủ, tăng sức hút chuỗi cung ứng toàn cầu |
| Nền tảng dữ liệu cảng biển | Kiến nghị từ TCIT và Gemalink (Gemadept) | Chuẩn hóa cơ chế Một cửa quốc gia, xóa bỏ cát cứ dữ liệu phần mềm giữa các bên |
Theo ông Cao Hồng Phong, Phó tổng giám đốc Cảng Quốc tế Gemalink, cốt lõi của vận hành xanh nằm ở việc chia sẻ tức thời hành trình đơn hàng, vị trí vỏ container rỗng và lịch cập tàu nhằm triệt tiêu thời gian phương tiện chờ đợi. Song song đó, TS Bùi Bá Nghiêm thuộc Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) nhấn mạnh sự cần thiết của việc triển khai thí điểm hành lang logistics xanh kết nối hạ tầng chuỗi lạnh nông sản từ Đồng bằng sông Cửu Long đến cụm cảng Cái Mép để giảm tỷ lệ hao hụt hàng hóa và khí thải ròng.
Phân tích tác động thị trường
Rào cản hạ tỷ lệ chi phí logistics của Việt Nam không nằm ở việc thiếu hụt công nghệ phần cứng mà xuất phát từ sự đứt gãy trong liên thông thông tin và độ trễ của thủ tục hành chính liên ngành. Việc các hãng tàu, công ty giao nhận và doanh nghiệp quản lý cảng như TCIT hay Gemalink vận hành trên các hệ thống phần mềm riêng rẽ khiến tỷ lệ xe tải chạy rỗng và thời gian lưu bãi bị kéo dài một cách lãng phí.
Nếu đưa chi phí logistics về mức 12% GDP, nền kinh tế Việt Nam sẽ bảo toàn được hàng tỷ USD giá trị thặng dư mỗi năm. Điều này trực tiếp hạ giá thành sản phẩm xuất khẩu, hỗ trợ các nhóm ngành thâm dụng vận tải như dệt may, da giày, điện tử và đặc biệt là nông sản chuỗi lạnh. Đối với các nhà phát triển bất động sản công nghiệp và dịch vụ kho bãi, áp lực chuyển dịch sang chứng chỉ công trình xanh, nhà kho thông minh tự động hóa và tích hợp phần mềm theo dõi dấu chân carbon sẽ là điều kiện tiên quyết để giữ chân nhóm khách hàng đa quốc gia trước sức ép từ các quy định thẩm định chuỗi cung ứng bền vững.
Câu hỏi thường gặp (FAQ)
Khái niệm logistics xanh tại Việt Nam bao gồm những yếu tố nào ngoài xe tải điện?
Logistics xanh là mô hình vận hành tích hợp bao gồm chuyển dịch vận tải đường bộ sang vận tải đa phương thức như đường sắt và thủy nội địa, vận hành nhà kho thông minh phát thải thấp, ứng dụng nguyên lý tuần hoàn bao bì, tối ưu hóa cung đường để loại bỏ tình trạng xe chạy rỗng và số hóa quy trình giao nhận nhằm cắt giảm thời gian phương tiện phải chờ đợi.
Việc cắt giảm chi phí logistics về 12% GDP tạo lợi thế gì cho doanh nghiệp sản xuất?
Mức giảm từ 3 đến 6 điểm phần trăm GDP trong chi phí logistics giúp hạ trực tiếp giá vốn hàng bán, rút ngắn chu kỳ luân chuyển hàng tồn kho, ngăn ngừa tổn thất chất lượng nông sản tươi sống và gia tăng đáng kể biên lợi nhuận ròng cho doanh nghiệp xuất khẩu khi tiếp cận các thị trường khó tính như Mỹ và châu Âu.
